Viện kiểm sát cấp tỉnhVăn phòng tổng hợp

Thứ Năm, 27/09/2018 | 15:11 GMT+7

Kết luận của Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Thọ tại HN giao ban trực tuyến ngày 17/9/2018

    VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                     CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
             TỈNH PHÚ THỌ                                               Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

            Số: 577 /TB-VKS                                        Phú Thọ, ngày 26 tháng 9 năm 2018
 
 
 
THÔNG BÁO
Kết luận của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ
tại Hội nghị giao ban trực tuyến công tác kiểm sát 9 tháng đầu năm 2018
 
 
         Ngày 17/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến công tác kiểm sát 9 tháng đầu năm 2018 đối với 25 đơn vị thuộc Viện kiểm sát hai cấp. Sau khi nghe báo cáo kết quả công tác kiểm sát 9 tháng đầu năm 2018 và phương hướng trọng tâm Quý IV/2018 của Thủ trưởng các đơn vị. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kết luận và chỉ đạo như sau:
 
         9 tháng đầu năm 2018, có thể nói Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Phú Thọ đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu theo kế hoạch đã đề ra, một số khâu công tác đã đạt vượt mức chỉ tiêu; một số đơn vị đã làm rất tốt như Phòng 7, Phòng 8, Phòng 9, VKS Việt Trì, Thanh Ba, Tân Sơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số chỉ tiêu chưa hoàn thành như: kiến nghị trong hoạt động điều tra; số lượng án trọng điểm; tổ chức phiên toà rút kinh ngiệm, ban hành kiến nghị với Toà án… Nguyên nhân là do kỹ năng phát hiện vi phạm của cán bộ Viện kiểm sát hai cấp chưa thực sự tốt; bên cạnh đó còn tồn tại tâm lý nể nang, né tránh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Do đó, đề nghị các đơn vị tích cực tăng cường phát hiện vi phạm một cách khách quan; đơn vị nào chưa hoàn thành các chỉ tiêu đề ra cần phải cố gắng hơn. Tuy có những khó khăn nhất định nhưng đề nghị các đồng chí Lãnh đạo các đơn vị phải làm hết trách nhiệm, trên tinh thần triệt để phát hiện các vi phạm, tăng cường đôn đốc cán bộ ở tất cả các khâu công tác, khi phát hiện vi phạm của các cơ quan tư pháp cần kịp thời ban hành kiến, kháng nghị.
 
         Lãnh đạo VKSND tỉnh Phú Thọ yêu cầu các đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, các đồng chí Trưởng phòng nghiệp vụ ngay sau Hội nghị này phải nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, cần sát sao hơn nữa trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trên cơ sở bám sát những chỉ đạo, yêu cầu của Ngành, của Viện kiểm sát tỉnh, yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương; cần có kế hoạch cụ thể, đề ra các giải pháp, biện pháp chấn chỉnh, khắc phục tồn tại, thiếu sót, đồng thời phát huy hơn nữa những ưu điểm để tổ chức thực hiện có hiệu quả, hoàn thành tốt nhất những chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch đã đề ra. Trong thời gian tới đây, Đoàn kiểm tra công tác năm sẽ tiến hành kiểm tra 13 huyện để chuẩn bị tổng kết cuối năm. Về bình xét thi đua, phải thực hiện nghiêm túc, đặc biệt đối với tập thể, cá nhân đề nghị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thời gian của năm công tác kiểm sát 2018 chỉ còn gần 3 tháng nữa, đề nghị các đồng chí Lãnh đạo các đơn vị khẩn trương rà soát lại các chỉ tiêu công tác đã hoàn thành và chưa hoàn thành của đơn vị mình, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận công tác, từng Kiểm sát viên xây dựng kế hoạch, thời gian hoàn thành nội dung công việc được giao. 
 
         Đối với những khó khăn, vướng mắc của các đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được nêu trong báo cáo và tại Hội nghị này, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Phòng nghiệp vụ sau khi nghiên cứu, thống nhất trả lời tháo gỡ cho các đơn vị cụ thể như sau:
 
         I. TRONG LĨNH VỰC KIỂM SÁT ÁN HÌNH SỰ:
 
         1. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông
 
         Theo quy định tại khoản 2, Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và theo quy định tại khoản 3, Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Công an xã, thị trấn có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Theo như hai quy định trên thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra Quyết định kiểm sát trực tiếp về công tác tiếp nhận giải quyết tin báo đối với Công an xã, thị trấn. Vì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về thẩm quyền của công an cấp xã và đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào của ngành nên khi tiến hành kiểm sát trực tiếp đối với Công an cấp xã thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông chỉ ban hành công văn tiến hành khảo sát căn cứ vào Chỉ thị số 20-CT/TU ngày 21/01/2014 của Tỉnh ủy Phú Thọ. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh hướng dẫn khi tiến hành kiểm sát trực tiếp đối với công an xã, thị trấn về công tác tiếp nhận xử lý tin báo, tố giác về tội phạm thì được ra Quyết định kiểm sát trực tiếp như khi tiến hành kiểm sát đối với Cơ quan điều tra hay không. Mặt khác khi tiến hành kiểm sát trực tiếp thì có được tính chỉ tiêu công tác hay không vì hiện nay trong hệ thống biểu mẫu thống kê của ngành không có chỉ tiêu này.
 
         Trả lời: Đối tượng kiểm sát của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ là CQĐT và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nên không có Công an xã, phường (Điều 160 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc tiếp nhận và kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm), chứ không quy định kiểm sát việc tiếp nhận. Do đó VKS cũng không có thẩm quyền kiểm sát đối với các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngày cho CQĐT có thẩm quyền... theo khoản 4 điều 146 BLTTHS. Vì vậy, chỉ căn cứ Chỉ thị 20/2014 của Tỉnh ủy để tiến hành khảo sát. Đồng chí Viện trưởng cũng lưu ý là: ý kiến của Viện kiểm sát Tam Nông là có cơ sở pháp lý. Vì theo nội dung của điều luật tố tụng thì bản chất các hoạt động ban đầu của Công an xã, phường, thị trấn khi xảy ra vụ việc như lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng,… là hoạt động thu thập chứng cứ tức là hoạt động điều tra ban đầu thì nó phải thuộc đối tượng của hoạt động kiểm sát… Tuy nhiên đây là vấn đề nhạy cảm khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch, ngành Kiểm sát chưa đưa nội dung kiểm sát này vào được vì chưa được sự đồng thuận của Bộ Công an nên chúng ta mới gặp khó khăn như vậy. Do đó, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị các đồng chí Viện trưởng vận dụng đồng bộ các phương pháp kiểm sát, quan hệ phối hợp cũng như Chỉ thị của Tỉnh uỷ để tiến hành kiểm sát sao cho đạt được hiệu quả.
 
         2. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập
 
         Qua hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận tin báo tại UBND, công an xã, thị trấn trên địa bàn huyện, VKS phát hiện thấy một số vướng mắc, chưa thống nhất quan điểm giải quyết, cụ thể như sau :
 
         - Một số tố giác của công dân về việc bị mất trộm tài sản, công an xã tiếp nhận, xác minh sơ bộ ban đầu xác định có sự việc xảy ra nhưng giá trị tài sản trộm cắp dưới định lượng 2.000.000đ, chưa chứng minh được đối tượng trộm cắp tài sản; Công an xã chuyển cơ quan điều tra công an huyện giải quyết, Xong công an huyện lại không nhận mà hướng dẫn công an xã, do giá trị tài sản chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, chưa chứng minh được người thực hiện hành vi trộm cắp nên để công an xã giải quyết, khi nào chứng minh được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp thì xem xét xử lý, Công an xã chấp hành theo hướng dẫn của công an huyện. Viện kiểm sát Yên Lập đưa ra lập luận:
 
         * Theo quy định tại khoản 2 điều 5; khoản 5 điều 8 Thông tư 01/2017 của liên ngành trung ương hướng dẫn trong việc tiếp nhận và thụ lý, giải quyết tin báo thì Công an, xã thị trấn chỉ có quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận ( Không có thẩm quyền giải quyết ).
 
         * Tại điều 173 bộ luật hình sự, quy định về tội trộm cắp tài sản, còn có quy định mặc dù giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà có tiền án, tiền sự về nhóm tội chiếm đoạt ( có đủ điều kiện về độ tuổi, nhận thức hành vi ) thì vẫn đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.
 
         Tại khoản 1 điều 11 thông tư 01 quy định: Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
 
         Tại khoản 3 điều 9 thông tư 01 quy định: Kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan đã thụ lý, giải quyết phải ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. (Không khởi tố vụ án hình sự, Khởi tố vụ án hình sự, Tạm đình chỉ)
 
         Như vậy nếu để công an xã giải quyết thì trái với hướng dẫn của thông tư 01 , mặt khác công an xã không thể ra 1 trong 3 hình thức để giải quyết tin báo, hướng dẫn của công an huyện khi nào chứng minh được đối tượng thực hiện hành vi thì xem xét xử lý thì đương nhiên không có thời hạn, không thông báo trả lời được cho công dân tố giác.
 
         * Đối với công an huyện vẫn lập luận, giá trị tài sản trộm cắp dưới định lượng, chưa chứng minh được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp nên không thể đưa vào tin báo, mà chỉ xác định hành chính để công an xã giải quyết.
 
         Trả lời: Quan điểm của Công an huyện Yên Lập là đúng vì Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định việc “ Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự”. Điều luật đã quy định rõ khi có đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì Công an xã, phường phải chuyển hồ sơ để xử lý hình sự. Việc này thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính, nếu không thực hiện thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, nặng nhất là tội “Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” (Điều 369 BLHS). Do vậy, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không thể làm thay cơ quan hành chính, nhưng khi phát hiện bỏ lọt tội phạm thì lại có quyền xử lý. Đồng chí Viện trưởng lưu ý Yên Lập là: Cơ quan Công an có hai thẩm quyền: một là thẩm quyền hành chính, hai là thẩm quyền tố tụng; chỉ khác là khi thực hiện hành vi hành chính thì ký tên, đóng dấu là Trưởng, Phó Công an huyện và sử dụng con dấu cơ quan Công an. Nhưng khi thực hiện các hành vi tố tụng hình sự thì ký và đóng dấu Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
 
         3. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa
 
         - Thứ nhất: Quá trình thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, Đơn vị còn có vướng mắc liên quan đến việc sử dụng dấu bút lục để thống kê thứ tự tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự. Trước đây, trước ngày 01/01/2018 (Trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực), hồ sơ án vụ án hình sự đã được các cơ quan tố tụng thực hiện xắp xếp và đóng dấu bút lục theo quy định tại Điều 13 và Điều 21 Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSNDC-BCA-BQP ngày 07/9/2005. Theo đó, hồ sơ vụ án hình sự được đóng dấu bút lục tại góc bên phải, phía trên của mỗi trang tài liệu trong hồ sơ vụ án. Sau khi BLTTHS năm 2015 ban hành, VKSND tối cao đã có Công văn số 3395/VKSTC-VP ngày 01/9/2017 về việc quản lý, sử dụng dấu bút lục kiểm sát. Mẫu dấu bút lục kiểm sát hồ sơ vụ án hình sự đã được VKSND tối cao hướng dẫn thể hiện 03 nội dung: Đơn vị kiểm sát vụ án; ngày nhận chứng cứ, tài liệu và số bút lục. Thực tế tại đơn vị đang sử dụng mẫu dấu vuông vừa để thống kê tài liệu, vừa để giao nhận tài liệu với cơ quan điều tra theo Khoản 5 Điều 88 BLTTHS, và thực hiện đóng dấu bút lục vào góc bên phải, phía duới của mỗi trang tài liệu trong hồ sơ vụ án, tuy nhiên việc thực hiện như vậy là không đúng với cách thức đóng dấu bút lục kiểm sát án hình sự trước đây. Vậy phải sử dụng dấu bút lục như thế nào là đúng quy định, xin ý kiến chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh.
 
         Trả lời: Trong trường hợp VKS Hạ Hoà hỏi thì phải sử dụng và chỉ sử dụng 01 con dấu bút lục. Đối với tài liệu CQĐT chuyển đến để VKS kiểm sát thì đóng ở góc dưới bên phải tài liệu, ghi rõ ngày tháng nhận; còn tài liệu VKS thu thập trực tiếp trong giai đoạn truy tố thì đóng góc trên bên phải tài liệu, không phải ghi ngày tháng. Việc đóng dấu như trên giúp phân biệt được tài liệu do cơ quan nào thu thập, VKS có thực hiện kiểm sát được ngay từ đầu hay không...
 
         - Thứ hai: Quá trình nghiên cứu hồ sơ đề nghị truy tố nhận thấy hầu hết các Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hòa chỉ ghi Điều luật áp dụng khởi tố, không ghi rõ “Khoản”, thực hiện đúng theo Mẫu 97 ban hành kèm theo Thông tư 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự. Tuy nhiên việc Cơ quan điều tra chỉ ghi Điều luật áp dụng khởi tố mà không ghi “khoản” theo Mẫu số 61 nêu trên là vi phạm và trái với Khoản 1 Điều 154 và Khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự. Xin nhận được ý kiến chỉ đạo của Viện kiểm sát tỉnh.
 
         Trả lời: Việc ghi rõ khoản của điều luật áp dụng đối với bị can đã được quy định trong luật và rất có ý nghĩa trong việc quyết định có áp dụng biện pháp ngăn chặn hay không? Do vậy, Viện kiểm sát các huyện, thành, thị yêu cầu Cơ quan điều tra phải ghi rõ, nếu không ghi thì tập hợp các trường hợp mà cơ quan điều tra không ghi rõ khoản nào của điều luật để kiến nghị, đồng thời trong quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát yêu cầu Kiểm sát viên phải ghi rõ điều khoản để xác định rõ thời hạn điều tra vụ án, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can và có căn cứ để giải quyết khiếu nại liên quan đến việc giam, giữ.
 
         II. TRONG LĨNH VỰC KIỂM SÁT ÁN DÂN SỰ
 
         1. Viện kiểm sát thành phố Việt Trì
 
         + Thứ nhất: VKS thành phố Việt Trì viện dẫn căn cứ pháp luật là khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Công văn số 70/VKSTC-V14, ngày 5/1/2018 về việc giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và nghiệp vụ kiểm sát trong ngành kiểm sát nhân dân. Từ đó có quan điểm cho rằng Công văn số 01/TA-DS ngày 26/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc thi hành khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự không phù hợp với quy định của pháp luật. 
 
         Cụ thể, Công văn số 01/TA-DS ngày 26/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ có nội dung:
 
         Với các vụ việc do Tòa án cấp huyện thụ lý, đương sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của UBND cấp huyện thì Tòa án cấp huyện có trách nhiệm thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ xác định quyết định cá biệt đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và phải hủy quyết định đó mới đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự, sau đó mới chuyển cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự.
 
         Trả lời: Theo quy định tại khoản 4, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức thì: “Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.
 
         Theo quy định tại khoản 4, Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định: 
 
         “Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
 
         ... 4.Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”.
 
         Tại Công văn số 70/VKSTC-V14, ngày 5/1/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nội dung hướng dẫn: 
 
         “ Trong vụ việc dân sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt... Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của BLTTDS 2015 và Luật TTHC 2015 để xác định thẩm quyền của Tòa án trong vụ việc này cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể sau đây:
 
         (1) Kể từ ngày 01/7/2016, trường hợp trong đơn khởi kiện vụ án dân sự, người khởi kiện nêu rõ yêu cầu hủy quyết định cá biệt của UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện và gửi đơn khởi kiện đến Tòa án cấp huyện thì Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện quyết định chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án cấp tỉnh và thông báo cho người khởi kiện theo điểm c khoản 3 Điều 191 BLTTDS...”
 
         Từ những căn cứ pháp luật nêu trên cho thấy, mặc dù BLTTDS 2015, Luật TTHC 2015 chưa quy định cụ thể thời điểm Tòa án cấp huyện phải chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thẩm quyền trong trường hợp có yêu cầu hủy quyết định cá biệt. Xong về nguyên tắc, Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc thì Tòa án đó có quyền và nghĩa vụ thụ lý, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án đang thụ lý giải quyết có quyền áp dụng Điều 105 BLTTDS 2015 để ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. Ngoài ra, Công văn số 70/VKSTC-V14, ngày 05/01/2018 của VKSNDTC đã hướng dẫn rất cụ thể. Do vậy, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu thấy vụ việc dân sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt, thì các đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện cần yêu cầu Tòa án cùng cấp chuyển hồ sơ cho Tòa án tỉnh thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền. 
 
         Đối với Công văn số 01/TA-DS ngày 26/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, VKS tỉnh sẽ có văn bản trao đổi với Chánh án Tòa án tỉnh.
 
         Thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự cho thấy có nhiều vụ án ban đầu trong đơn khởi kiện của công dân chỉ đề nghị Tòa án giải quyết một hoặc một số nội dung tranh chấp cụ thể, nhưng sau khi Tòa án cấp huyện thụ lý và tiến hành giải quyết thì lại phát sinh yêu cầu khởi kiện bổ sung và yêu cầu Tòa án hủy quyết định hành chính (quyết định cá biệt). Nhưng cũng có trường hợp ngay từ đầu trong đơn khởi kiện, công dân yêu cầu Tòa án giải quyết cả hai nội dung đó là cả nội dung tranh chấp cụ thể và cả yêu cầu hủy quyết định hành chính. Do vậy khi kiểm sát hoạt động thụ lý giải quyết loại việc này của Tòa án thì Kiểm sát viên được phân công kiểm sát cần phân biệt:
 
         - Trường hợp thứ nhất: Nếu sau khi thụ lý giải quyết được một khoảng thời gian mà người khởi kiện lại có đơn yêu cầu Tòa án hủy quyết định hành chính (Quyết định cá biệt) mà họ cho rằng trái pháp luật thì ngay lập tức Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp đó phải yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ đến Tòa án cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền. Nếu Tòa án không thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát phải ban hành ngay kiến nghị với lý do: Thụ lý giải quyết trái thẩm quyền. Trường hợp sau khi kiến nghị mà Tòa án không đồng ý với kiến nghị của Viện kiểm sát thì báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết. Nếu Tòa án cùng cấp đã đưa vụ án ra xét xử thì Viện kiểm sát cấp huyện không cử Kiểm sát viên tham gia phiên toà và thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo Viện kiểm sát tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
 
         - Trường hợp thứ hai: Nếu ngay từ đầu, trong đơn khởi kiện gửi Tòa án mà người khởi kiện yêu cầu cả việc hủy quyết định cá biệt thì Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển ngay đơn hoặc hướng dẫn công dân gửi đơn đến Tòa án tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền. Đây là pháp luật tố tụng quy định. Yêu cầu Viện kiểm sát các huyện, thành, thị phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền do luật định khi thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp.
 
         + Thứ hai: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đưa ra câu hỏi: Tòa án triệu tập người làm chứng đến làm việc theo yêu cầu của đương sự thì người làm chứng viết bản tự khai hay Thẩm phán phải lấy lời khai? Nếu người làm chứng viết bản tự khai thì Viện kiểm sát có tham gia phiên tòa hay không? 
 
         Trả lời: Theo quy định tại Điều 77 BLTTDS “Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị,Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng”
 
         Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015 quy định những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, trong đó điểm a của điều luật là biện pháp “Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng”. Và theo quy định của Điều 99 BLTTDS 2015, Tòa án có thể lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầu của đương sự, hoặc khi xét thấy cần thiết.
 
         Theo các quy định trên, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có thể tự mình xác định một người nào đó là người làm chứng và cung cấp cho Tòa án xác nhận của người làm chứng. Mặt khác, Tòa án cũng có thể tự xác định người làm chứng khi thấy cần thiết và lấy lời khai của người làm chứng để làm rõ nội dung vụ việc. 
 
         Như vậy, trường hợp đương sự tự cung cấp cho Tòa án xác nhận của người biết sự việc, tài liệu này có thể có hoặc không có giá trị trong việc giải quyết nội dung vụ việc dân sự. Trường hợp này chứng cứ không do Tòa án thu thập nên không coi là biện pháp thu thập chứng cứ- KSV không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
 
         Tuy nhiên, nếu tài liệu do đương sự cung cấp cần thiết trong việc giải quyết vụ việc dân sự thì dù đương sự không đề nghị Tòa án cũng phải xác định người làm chứng để làm rõ nội dung vụ việc.
 
         Nguyên tắc của tố tụng dân sự là đương sự tự chứng minh, để chứng minh thì phải thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Khi không thu thập được hoặc gặp khó khăn trở ngại trong việc thu thập chứng cứ hoặc thấy cần phải làm rõ hơn thì có quyền đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ. Trong trường hợp mà Viện KSND TP Việt Trì nêu, việc đương sự đề nghị Tòa án lấy lời khai của người làm chứng, Tòa án triệu tập người làm chứng đến làm việc nhằm làm rõ những tình tiết của vụ án đã là sự thể hiện của việc thu thập chứng cứ rồi. Biên bản lấy lời khai hay bản tự khai chỉ là kết quả của việc thu thập chứng cứ này của Tòa án mà thôi. Đây là vụ án Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, do đó Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.
 
         Về nguyên tắc, Tòa án khi triệu tập người làm chứng đến làm việc phải lập biên bản lấy lời khai. Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng một số thẩm phán né việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát bằng việc để người làm chứng viết bản tự khai. Để giải quyết tình trạng này Viện kiểm sát tỉnh yêu cầu các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện:
 
         1- Xác định hoạt động triệu tập người làm chứng đến làm việc của Tòa án là thu thập chứng cứ, Yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên tòa.
 
         2- Tổng hợp những vụ án tương tự báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh để Viện kiểm sát tỉnh kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh có biện pháp chấn chỉnh và chỉ đạo về nghiệp vụ đối với các Tòa án cấp huyện.
 
         3- Nếu có căn cứ rõ ràng là thẩm phán thụ lý né việc Viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì Viện kiểm sát ngay lập tức ban hành kiến nghị gửi Chánh án Tòa án cấp đó và đồng gửi cho Viện kiểm sát nhân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh.
 
         2. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn
 
         VKSND huyện Thanh Sơn đưa ra vướng mắc trong việc kiểm sát Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định đình chỉ và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Lý do: Theo quy định, Tòa án chỉ chuyển cho VKS các quyết định này mà không chuyển tài liệu làm căn cứ ra quyết định, do vậy việc kiểm sát nội dung việc ra quyết định đó đúng hay sai gặp khó khăn.
 
         Trả lời: 
 
         Đối với 3 loại Quyết định do VKSND huyện Thanh Sơn nêu ra, cần phân định ra thành 2 nhóm:
 
         - Nhóm 1: Đối với Quyết định đình chỉ và quyết định tạm đình chỉ: 
 
         Theo quy định của BLTTDS, VKS có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với 2 quyết định này. Trường hợp này được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02 ngày 31/8/2016 của TANDTC- VKSNDTC quy định về việc phối hợp giữa 2 ngành TA- VKS trong việc thi hành BLTTDS, theo đó: Việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, ... được thực hiện như sau: Sau khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát.
 
         Như vậy, khi kiểm sát quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát cấp huyện, cấp tỉnh có quyền gửi văn bản yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ để kiểm sát căn cứ ra quyết định. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân cần vận dụng quy chế phối hợp để cử Kiểm sát viên trao đổi với Thẩm phán cung cấp tài liệu mà Thẩm phán dùng làm căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ (Ví dụ như: Đơn đề nghị tạm đình chỉ, lý do nêu trong đơn là gì có chính đáng không? Đơn rút đơn khởi kiện... các tài liệu khác, Kiểm sát viên phải nghiên cứu và đánh giá tính khách quan, vô tư, tự nguyện của nội dung đơn này…).
 
         - Nhóm 2: Đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự: 
 
         Thông tư liên tịch số 02 quy định rất cụ thể các trường hợp Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để tham gia phiên tòa, phiên họp, chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát xem xét kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và chuyển hồ sơ để xem xét việc kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
 
         Đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, VKS cấp tỉnh và VKS cấp huyện chỉ có quyền báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nên Thông tư liên tịch số 02 không quy định Tòa án phải chuyển hồ sơ cho VKS cấp tỉnh, cấp huyện. Ngoài ra, trong số các quyền yêu cầu của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 20 Thông tư liên tịch số 02 cũng không có quy định VKS có quyền yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ, hoặc cho VKS sao chụp tài liệu chứng cứ, hoặc cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của VKS trong trường hợp phục vụ cho việc kiểm sát thụ lý và kiểm sát quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
 
         Nội dung vướng mắc này cũng đã được một số huyện đưa ra tại Hội nghị giao ban 3 tháng đầu năm, Viện kiểm sát tỉnh cũng đã có văn bản báo cáo vướng mắc gửi VKSND tối cao. Tại Công văn số 70/VKSTC-V14, ngày 5/1/2018 và Công văn số 2964/VKSTC-V14 ngày 19/7/2018 của VKSND tối cao v/v “Giải đáp vướng mắc pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật” đã hướng dẫn về nội dung này, xong nội dung hướng dẫn chưa thỏa đáng. Tuy nhiện các đồng chí Viện trưởng cũng cần tích cực phối hợp với Chánh án Toà án cùng cấp để tạo điều kiện cho Kiểm sát viên tiếp cận hồ sơ và thực hiện kiểm sát việc giải quyết của Toà án đạt được hiệu quả. Vấn đề là ở chỗ mối quan hệ của đồng chí Viện trưởng với Toà án như thế nào mà thôi.
 
         Đối với các trường hợp này, VKS tỉnh yêu cầu các đơn vị VKS cấp huyện cần sử dụng mối quan hệ phối hợp với Tòa án để tiếp cận hồ sơ, nhằm kiểm sát được căn cứ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Trường hợp Tòa án không phối hợp hoặc gây khó dễ thì VKS cấp huyện có văn bản báo cáo để VKS tỉnh trao đổi, đề nghị Tòa án tỉnh chỉ đạo Tòa án cấp huyện phối hợp. 
 
         III. TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
 
         1. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì:
 
         Tại Chương XXX Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định về thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong các giai đoạn tố tụng nhưng chưa quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong thời gian người chấp hành án phạt tù chưa đi chấp hành án tại Trại giam và có đơn xin hoãn thi hành án, nên không có căn cứ để yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định tình trạng bệnh tật làm căn cứ để kiểm sát căn cứ hoãn chấp hành án gây khó khăn cho công tác kiểm sát căn cứ hoãn chấp hành án phạt tù.
 
         Ví dụ: Đối với người chấp hành án tại ngoại đã có quyết định thi hành án phạt tù, khi hết thời gian tự nguyện thì họ xuất trình Bệnh án tâm thần.
 
         Trả lời: Chương XXX - BLTTHS năm 2015 quy định về thẩm quyền đề nghị trưng cầu giám định đối với người phạm tội nghi bị mắc bệnh tâm thần và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội bị mắc bệnh tâm thần.
 
         Khoản 2, Điều 447/BLTTHS quy định “Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án
 
         Chương XXX, cũng quy định về thẩm quyền đề nghị và ra quyết định trưng cầu giám định pháp y cho người tâm thần trong từng giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn chấp hành án. 
 
         Điều 452/BLTTHS quy định về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù: Nếu có căn cứ để cho rằng người chấp hành án mắc bệnh tâm thần thì theo đề nghị trưng cầu giám định pháp y của Trại giam, Trại tạm giam, CQTHAHS cấp tỉnh Tòa án cấp tỉnh ra quyết định trưng cầu giám định pháp y. 
 
         Trường hợp người chấp hành án đang được tại ngoại, trong thời gian 7 ngày tự nguyện thi hành án thì có đơn xin hoãn vì lý do mắc bênh tâm thần. Mặc dù Luật không quy định rõ về thẩm quyền trưng cầu giám định trong giai đoạn này. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này mà Viện kiểm sát thành phố Việt Trì hỏi thì đây thuộc giai đoạn “Thi hành án” bởi bản án đã có hiệu lực pháp luật và họ đã có quyết định thi hành án. Nhưng do họ chưa đi chấp hành án tại Trại giam hoặc Trại tạm giam nên thuộc quản lý của CQTHAHS công an cấp huyện.
 
         Trong trường hợp này, nếu nghi ngờ người chấp hành án mắc bệnh tâm thần thì CQTHAHS công an cấp huyện hoặc Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền làm văn bản đề nghị Tòa án cấp huyện trưng cầu giám định và nếu có căn cứ thì Tòa án cấp huyện ra quyết định trưng cầu giám định pháp y và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nếu người chấp hành án bị bệnh theo quy định tại Điều 447, Điều 452 BLTTHS 2015. Trong trường hợp cụ thể như VKS Việt Trì hỏi thì Viện kiểm sát nên chủ trì họp 3 ngành để thống nhất Cơ quan thi hành án hình sự hay Toà án ra quyết định giải quyết trưng cầu đều được cả vì đây là giai đoạn thi hành án như điều luật đã quy định.
 
         2. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn
 
         Khi tiến hành xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phần khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án của bị án có được xem xét để xét giảm cùng không? Phần khấu trừ thu nhập của bị án được xét giảm thời hạn chấp hành án được thực hiện như thế nào?
 
         Trả lời: Khoản 3, Điều 36 BLHS năm 2015 quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng…
 
         Như vậy, theo quy định của pháp luật nêu trên việc khấu trừ thu nhập (nếu có) được thực hiện hằng tháng, điều đó có nghĩa là cùng với việc thực hiện đồng thời với thời gian chấp hành bản án. Nếu được giảm thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ thì đương nhiên phần khấu trừ thu nhập cũng đã được giảm theo. Do vậy, yêu cầu các đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát huyện, thành, thị phối hợp với Toà án cùng cấp để áp dụng thống nhất.
 
         IV. TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: 
 
         Đối với nội dung Viện kiểm sát Hạ Hoà hỏi trường hợp bán tài sản trước khi có bản án của Toà án thì quan điểm của đồng chí Viện trưởng là: Việc Toà án Hạ Hoà trả lại đơn khởi kiện với lý do: “Việc mua bán chuyển nhượng đó là hợp pháp” là không đúng. Bởi vì: Toà án không được từ chối đơn khởi kiện của công dân vì bất kỳ lý do gì, bởi lẽ: Việc mua bán, chuyển nhượng tài sản giữa công dân với nhau về bản chất là quan hệ giao dịch dân sự, mà trong đó một bên hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu mà họ cho rằng đó là giao dịch trái pháp luật thì Toà án phải nhận đơn và thụ lý, giải quyết theo quy định. Trường hợp này Toà án trả đơn, chưa qua xét xử mà lại cho rằng giao dịch đó là hợp pháp là thiếu tính pháp lý. Tuy nhiên, đây là vụ việc cụ thể không thể đưa và Kết luận Hội nghị mà Phòng 11 có Công văn trả lời riêng gửi Viện kiểm sát Hạ Hoà và 13 huyện, thành, thị để rút kinh nghiệm chung trong các trường hợp tương tự.
 
         Trên đây là kết luận chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Văn phòng tổng hợp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thông báo để các đơn vị quán triệt, thực hiện.
 
 
Nơi nhận:                                                                                                                TL.VIỆN TRƯỞNG
- Lãnh đạo Viện (B/c);                                                                                           CHÁNH VĂN PHÒNG
- Ban nội chính Tỉnh ủy (để biết);
- 25 đơn vị (T/h);                                                                                               (đã ký)
- Trang thông tin điện tử Ngành; 
- Lưu VPTH. 
 
                                                                                                                               Đỗ Đức Thành